Lộ ma xưa và nay

-

Thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang, nằm chếch về phía Đông Nam, có diện tích82,2407km2. Phía Đông và phía Bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía Nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre, phía Tây giáp huyện Châu Thành. Thành phố Mỹ Tho có 17 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phường, 6 xã). Dân số có 229.721 người, có 4 nhóm tộc người chính: Kinh, Hoa, Ấn và Khơme. Có 4 tôn giáo chính: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và Cao đài (tháng 2 năm 2019, nguồn Cổng thông tin điện tử Tiền Giang).

Bạn đang xem: Lộ ma xưa và nay

*
Du lịch sinh thái tại Cồn Thới Sơn (Cồn Lân) thuộc Thành phố Mỹ Tho.

Thành phố Mỹ Tho có Quốc lộ 1 chạy qua, nối TP Mỹ Tho với các huyện Châu Thành, Tân Phước, Cai Lậy, Cái Bè và thị xã Cai Lậy; có Quốc lộ 50 đi về các huyện Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phú Đông và thị xã Gò Công; Đường tỉnh 864 chạy dọc sông Tiền lên Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè; có Quốc lộ 60 và cầu Rạch Miễu nối thành phố Mỹ Tho với tỉnh Bến Tre. Thành phố Mỹ Tho có 75 tuyến đường, trong đó có 68 tuyến đường nội ô. Từ thành phố Mỹ Tho có thể dễ dàng đi bằng đường thủy hay bằng đường bộ lên thành phố Hồ Chí Minh hoặc xuống các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hay tiến ra biển, thậm chí đến tận thành phố Phnôm Pênh (thủ đô của Campuchia).

Trong thành phố có con kênh quan trọng là Bảo Định chia thành phố Mỹ Tho thành 2 khu vực tả ngạn và hữu ngạn. Đặc điểm nổi bật trong cảnh quan địa lý là vườn cây ăn trái ở các xã ven nội ô thành phố. Vườn cây đã tạo thành vành đai xanh của thành phố, bao bọc khu nội ô, tạo nên địa hình khá đặc biệt. Trong nội ô có hồ nước Mỹ Tho, dân gian quen gọi là giếng nước, được đào năm 1927, hiện là công viên Tết Mậu Thân, nơi điều hòa nhiệt độ và là lá phổi của thành phố. Cảnh quan thành phố càng nên thơ hơn với sự tiếp nối đan xen giữa phố phường, vườn cây, đồng ruộng, sông rạch với ưu thế trên, ngay từ những năm đầu mới hình thành đô thị Mỹ Tho, cũng như hôm nay thành phố Mỹ Tho luôn là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa của toàn tỉnh, đồng thời là trung tâm giao lưu quan trọng của miền Trung Nam bộ, là cầu nối giữa các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ.

Từ thế kỷ 17, Mỹ Tho đã được lưu dân người Việt từ miền Trung, miền Bắc vào khai hoang, lập ấp. Trải qua quá trình lao động gian khổ, anh dũng, bền bĩ và sáng tạo, cùng với một số chính sách khuyến khích khai hoang của chúa Nguyễn, lưu dân người Việt đã biến Mỹ Tho, từ một vùng đất hoang vu trở thành nơi trù phú, có nền sản xuất nông nghiệp phát triển và đời sống của cư dân ngày càng ổn định.

Năm 1679, một nhóm người Hoa do nguyên tướng nhà Minh Dương Ngạn Địch, vì chống đối nhà Thanh, di trú sang nước ta. Được sự đồng ý của chúa Nguyễn Phúc Tần, nhóm người Hoa này, dưới sự hướng dẫn của 2 vị quan của phủ Chúa là Xá sai Văn Trinh và Tướng thần lại Văn Chiêu, đã vào Mỹ Tho lập nghiệp. Ở vùng đất mới, những người Hoa này tự gọi là Minh hương với nghĩa là "con cháu của nhà Minh" để nhắc đến nguồn gốc cũ.

Tại Mỹ Tho, người Minh hương chủ yếu làm nghề buôn bán và lập ra Mỹ Tho đại phố, tức chợ phố lớn Mỹ Tho, ở thôn Mỹ Chánh. Lúc bấy giờ, ngoài thôn Mỹ Chánh, người Việt còn thành lập ở khu vực này nhiều thôn khác, như Bình Tạo, Điều Hòa, Phú Hội, Đạo Ngạn, An Hòa, Mỹ Hóa, v.v… Đến cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn cho phép người Hoa được thành lập làng Minh Hương. Theo Phan An trong bài viết Người Hoa ở Nam Trung bộ và Nam bộ thế kỷ XVII – XIX, "đây là cộng đồng những người Trung Hoa nhập cư tương đối ổn định và đã hội nhập vào cộng đồng Việt Nam được chính quyền phong kiến Đàng Trong xem là thần dân của mình. Làng Minh Hương về cơ bản cũng giống như những làng khác ở Việt Nam, là một tổ chức hành chánh cơ sở của phong kiến Việt Nam". Tuy nhiên, do ở địa bàn Mỹ Tho, làng xã của người Việt đã được thành lập từ trước, nên làng Minh Hương của người Hoa ở tại đây phải "ở nhờ trên đất thôn Mỹ Chánh".

*

Chùa Vĩnh Tràng - Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia tại Mỹ Tho.

Mỹ Tho đại phố nằm dọc theo nhánh bên trái của rạch Mỹ Tho; bắt đầu từ bến Tắm Ngựa ở chỗ giao nhau giữa rạch Mỹ Tho với sông Tiền (nay thuộc phường 2, TP Mỹ Tho), chạy dài theo đường Nguyễn Huỳnh Đức khoảng 4 km (nay thuộc phường 2 và phường 8, TP Mỹ Tho), cho đến cầu Vỹ, Gò Cát (nay thuộc xã Mỹ Phong, TP Mỹ Tho). Do được thành lập ở ngã ba sông, nên ngôi chợ này có khả năng quy tụ ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác; và từ đó lan tỏa ra khắp nơi, thông thương với các trung tâm thương mại lớn ở trong nước, kể cả với nước ngoài.

Trên cơ sở những thành tựu của sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân đã đi vào nề nếp, khối cộng đồng dân tộc Việt/đa số/nông nghiệp và Hoa/thiểu số/thương nghiệp đã chung sức đồng lòng, ra sức phát triển Mỹ Tho, để nơi đây trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất được thành lập đầu tiên ở Nam bộ.

Từ chợ phố lớn Mỹ Tho, thuyền buôn ngược dòng sông Tiền theo hướng tây lên Cai Lậy, Cái Bè và xa hơn nữa là Cao Miên (Campuchia); hoặc xuôi dòng sông Tiền về phía đông đến Chợ Gạo, Gò Công, rồi ra cửa Tiểu, sau đó đến chợ Sài Gòn hay Phú Xuân – Huế; hoặc theo kênh Bảo Định qua sông Vàm Cỏ Tây, Bến Lức đến chợ Sài Gòn. Không chỉ thế, chợ phố lớn Mỹ Tho còn là thương cảng có quan hệ buôn bán với nước ngoài. Hoạt động chính yếu, nhộn nhịp, sầm uất của Mỹ Tho đại phố là nội thương và ngoại thương. Chính vì vậy, trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức chép về sự phồn thịnh của chợ phố lớn Mỹ Tho như sau : "Phía nam trị sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đình cao, chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm một đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo"; và "phàm thuyền buôn các nơi qua lại phải đậu nghỉ ở sông Mỹ Tho, hóng mát, xem trăng, đợi con nước lên, thuận dòng lên tây hay xuống đông".

Sự sung thịnh của chợ phố lớn Mỹ Tho chứng tỏ sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế hàng hóa ở đây đã có những bước phát triển đáng kể. Nông sản không chỉ đủ dùng cho nhu cầu của cư dân Mỹ Tho, mà còn dư ra với số lượng lớn, trở thành hàng hóa được buôn bán trên thị trường cả nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Như vậy, thế mạnh vượt trội của Mỹ Tho đại phố là thương mại; và thương mại ở đây đã vươn ra tầm thế giới. Thế mạnh đó bắt nguồn từ sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với chế biến và xuất khẩu nông sản, nhất là thóc gạo, cau khô và thủy sản.

Sau đó, đến năm 1781, do vị thế "đắc địa", nhất là do sự sung túc, sầm uất của Mỹ Tho đại phố trong suốt 102 năm phát triển (1679-1781), chúa Nguyễn cho dời trị sở của dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định (nay thuộc thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành) về thôn Mỹ Chánh - chợ Mỹ Tho ở phía tả ngạn kinh Bảo Định (nay thuộc phường 2 và phường 8, TP Mỹ Tho) .

Tiếp theo, đến năm 1792, thành Mỹ Tho được dựng lên. Lúc bấy giờ, cả Nam bộ chỉ có hai thành được xây dựng với quy mô lớn là thành Mỹ Tho và thành Gia Định. Thành Mỹ Tho do Trần Văn Học vẽ thiết kế theo kiểu thành Vauban của phương Tây. Trịnh Hoài Đức mô tả ngôi thành như sau: "Thành có dạng hình vuông, chu vi 998 tầm, có mở hai cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có xây cầu bắc qua hào, hào rộng 8 tầm, sâu 1 tầm, dưới cầu có cửa cống nhỏ để lưu thông với sông lớn (sông Tiền – Người viết), ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi ra hũng vô như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền 30 tầm thì đến sông lớn. Trong thành có những kho gạo, kho thuốc đạn, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm chỉnh"(1).

Xem thêm: Cách Đăng Ký Ch Play: Tạo Tài Khoản Google Play Trên Android

Như vậy, đến cuối thế kỷ 18, do đã có phố chợ buôn bán náo nhiệt; đã có hệ thống hành chánh hoàn chỉnh và đã có ngôi thành kiên cố với đội quân thường trực bảo vệ thì Mỹ Tho đã trở thành một đô thị đích thực, vừa là trung tâm kinh tế - thương mại, vừa là trung tâm chính trị - hành chính của dinh Trấn Định nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Năm 1808, trấn Định Tường được thành lập; và lỵ sở của trấn vẫn được đặt tại thôn Mỹ Chánh - chợ Mỹ Tho. Năm 1826, do yêu cầu phát triển của đô thị Mỹ Tho, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở của trấn Định Tường từ nơi cũ sang địa điểm mới ở về phía hữu ngạn kinh Bảo Định thuộc hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo (nay là các phường 1, 4, 7, TP Mỹ Tho). Theo đó, thành Định Tường được dựng lên. Thành này do Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt trực tiếp chỉ huy khoảng 11.000 nhân công xây dựng. Theo quyển Đại Nam nhất thống chí, thành Định Tường được đắp bằng đất, hình vuông, chu vi 320 trượng (khoảng 2.000 m), cao 9 thước 5 tấc (khoảng 4,5 m), mở 4 cửa, hào rộng 8 trượng (khoảng 3 m), sâu 6 thước 5 tấc (khoảng 3 m).Trong quyển Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861, Léopold Pallu mô tả ngôi thành như sau: "Thành Mỹ Tho xây theo lối châu Âu. Thành vuông vức, có ụ làm pháo đài. Hào chung quanh rộng có nước, tường thành cao và rất dày. Xung quanh thành là đầm lầy. Khí giới của thành có đại pháo nòng lớn. Thành kiểm soát hết sông Tiền Giang và các đường thuỷ đổ vào sông này".

Ngay sau khi thành Định Tường được dựng lên, có một thương nhân tên là Dương Tấn Tuyên cho xây một ngôi chợ mới tọa lạc về phía đông của ngôi thành, nên dân gian thường gọi là chợ Thành. Đây là ngôi chợ có hoạt động nội – ngoại thương rất nhộn nhịp. Điều đó đã làm cho Mỹ Tho trở thành một đô thị lớn mang tầm vóc quốc tế của nước ta trong nửa đầu thế kỷ XIX. Trong quyển Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861, Léopold Pallu viết: "Sài Gòn là trung tâm quân sự, Mỹ Tho là trung tâm thương mãi. Các ghe thuyền của người Nhật Bản, người Trung Hoa, người An Nam, người Xiêm (Thái Lan) có đáy cạn dễ di chuyển trên sông gần nơi sản xuất gạo, khiến cho Mỹ Tho trở thành trung tâm buôn bán lớn nhất của Nam kỳ, trước khi người Âu đến ... Mỹ tho còn là vựa thóc lại vừa là thị trường lúa gạo quan trọng của cả An Nam…".

Do kinh tế phát triển nên đời sống của cư dân ở Mỹ Tho ngày càng ổn định và có cảnh quan tươi đẹp với nhà cửa khang trang, vườn ruộng trù phú. Theo Léopold Pallu, "Mỹ Tho là một vùng có nhà cửa rộng lớn, lợp bằng lá dừa nước theo tập quán. Nhưng dọc theo bờ kinh Bưu Điện (Arroyo de la Poste hay kinh Bảo Định), nhà cửa thanh nhã hơn nhiều, mái lợp ngói giữa những vườn dừa, vườn cau, tất cả có vẻ trang nhã, phong lưu, đôi khi giàu có. Có thể so sánh với cảnh phồn hoa đô hội của Chợ Quán và kinh Tàu Hủ ở Sài Gòn...".

Tại lỵ sở mới, ngoài việc xây dựng tỉnh thành, chính quyền nhà Nguyễn còn tiến hành xây dựng các công trình khác nhằm phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế và văn hóa – giáo dục, như trường học của tỉnh (1826), đàn Tiên nông thờ thần Nông (1832), đàn Xã tắc thờ thần Đất nước (1833), chợ, cửa quan thu thuế (1835), miếu Thành hoàng (1848), v.v…

Vào đầu thế kỷ XX, Mỹ Tho là địa bàn trung chuyển quan trọng nhất nối Sài Gòn với các tỉnh miền Tây Nam kỳ và ngược lại bằng hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật phát triển: đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, được xem là đường xe lửa được hình thành đầu tiên ở Việt Nam; đường tàu thủy Mỹ Tho - Nam Vang. Quyển Địa phương chí tỉnh Mỹ Tho năm 1902 cho biết: "...Vị trí của Mỹ Tho thật tuyệt diệu. Nó chiếm một vị thế trung chuyển quan trọng vào bậc nhất cho các loại ghe chài to lớn từ miền Tây lên Chợ Lớn (Sài Gòn) qua con kinh Bảo Định và con kinh Chợ Gạo. Mỹ Tho lại có con đường sắt đầu tiên của Đông Dương, con đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho và con đường thủy nối liền Sài Gòn và các tỉnh miền Tây lên tận Pnôm Penh qua bến tàu lục tỉnh Mỹ Tho...".

Nông sản, nhất là thóc gạo, là mặt hàng được buôn bán chủ yếu tại Mỹ Tho. Địa phương chí tỉnh Mỹ Tho năm 1902 viết: "Việc thương mãi tổng quát của chợ Mỹ Tho, trước hết là việc xuất cảng lúa gạo. Lúa gạo được sơ chế; và sau đó, được chuyển về địa chỉ của các nhà máy xay xát gạo ở Sài Gòn và Chợ Lớn. Tại đó, gạo được chà sạch; rồi vận chuyển ra Trung kỳ hay Cambốt (Campuchia). Những loại trái cây, lá trầu rang cũng được xuất lên Cambốt". Quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liêng Phong cũng chép tương tự :

Buổi mơi, buổi tối, buổi trưa,

Tàu đò, xe lửa, rước đưa liền liền.

Đầu đường sáu tỉnh mối giềng,

Tiệm ăn, tiệm ngủ khỏe yên bộ hành.

Hoạt động buôn bán ở chợ Mỹ Tho diễn ra rất tấp nập. Sau đây là cảnh trên bến dưới thuyền của ngôi chợ này trong quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca:

Mỹ Tho nguyên tỉnh Định Tường,

Phía tiền một dãy, phố phường quá đông.

Trên bờ hàng hóa thạnh sung,

Dưới sông ghe đậu chật cùng ngoài trong.

Song song với quá trình khai mở đất đai và phát triển kinh tế, nhân dân Mỹ Tho luôn phải đối phó với giặc ngoại xâm. Năm 1705, quân Cao Miên thường kéo đến quấy phá, cướp bóc. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Vân đắp lũy và đào kinh Bảo Định để chận đánh địch khiến bọn chúng phải đại bại rút quân về nước. Năm 1785, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn và nhân dân Mỹ Tho đã đánh bại quân Xiêm xâm lược tại đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến rạch Xoài Mút. Viết về sự kiện này, sử triều Nguyễn ghi:"Kể từ sau trận Giáp Thìn, người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Mỹ Tho đã cùng với nghĩa quân Tây Sơn đánh bại sự xâm lược hung hãn của bọn phong kiến Xiêm, giữ vững nền độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ thành quả khai hoang của nhân dân Nam bộ.

Dưới thời thuộc Pháp (1861 – 1954) và dưới thời chính quyền Sài Gòn (1954 – 1975), mặc dù trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi, nhưng Mỹ Tho vẫn luôn là tỉnh lỵ.

Hiện tại Mỹ Tho là đô thị loại 1 thuộc tỉnh Tiền Giang, Mỹ Tho nổi tiếng ngoài ẩm thực, di tích lịch sử còn loại hình du lịch sinh thái tham quan Cồn Thới Sơn, Cồn Tân Long,… với lượng khách hàng nghìn lượt mỗi ngày.

Xem để hiểu thêm Nam Bộ xưa giai đoạn thế kỷ XVI - XVII, do Đài Truyền hình Vĩnh Long SX.